NGUYÊN LÝ VÀ ỨNG DỤNG DERMOSCOPY
1. Nguyên lý của dermoscopy
Sự phát triển của máy soi da (dermoscopy) qua hàng nhiều thế kỷ, bắt đầu từ năm 1663 kính hiển vi bề mặt da được Johan Christophorous Kolhaus sử dụng, sau đó đến năm 1878 Ernst Abbe sử dụng dầu và sau đó Johann Saphier, bác sĩ da liễu người Đức đã bổ sung một nguồn sáng tích hợp vào thiết bị và Leon Goldman đặt ra thuật ngữ "dermascopy" (soi da) và sử dụng máy soi da để đánh giá các tồn thương sắc tố da.
Trong quá trình khám da bằng mắt thường, phần lớn ánh sáng truyền đến da bị phản xạ khỏi lớp sừng, do đó người quan sát không thể nhìn thầy các cấu trúc nằm bên dưới lớp sừng. Dermoscopy thông qua bóng đèn diode phát quang, có hoặc không sử dụng bộ lọc phân cực để có thể giúp nhìn rõ các cấu trúc dưới lớp sừng bao gồm thượng bì, màng nối thượng bì và trung bì, trung bì lưới.
Dermoscopy là thiết bị quang học cho phép thăm khám các lớp nông của da (thượng bì, trung bì nông) với độ phóng đại từ 10 đến hàng trăm lần.
Ba hiện tượng quang học quyết định chất lượng hình ảnh trong dermoscopy là phản xạ, tán xạ và hấp thu ánh sáng trong da. Ba yếu tố này quyết định để chúng ta nhìn thấy màu sắc, độ sâu, hình thái, mạch máu, cấu trúc sắc tố và có dấu hiệu ác tính.

Hình 1: Biểu diễn sơ đồ các đặc tính quang học của ánh sáng mà không sử dụng kính hiển vi soi da. Các mũi tên chỉ ra đường đi của ánh sáng xuyên qua da. Một phần ánh sáng bị hấp thụ bởi các lớp bề mặt của biểu bì và chỉ bị tán xạ nhẹ (đường màu đỏ mỏng), và một phần ánh sáng xuyên sâu hơn và trải qua nhiều sự kiện tán xạ hơn (đường màu đen mỏng). Tuy nhiên, hầu hết ánh sáng chiếu tới bị phản xạ khỏi lớp sừng (đường màu xanh dày); ánh sáng chói trên bề mặt này lấn át võng mạc và do đó ngăn cản người quan sát nhìn thấy ánh sáng phản xạ từ các lớp sâu hơn của da (đường màu đỏ và đen). Vì vậy, việc khám da lâm sàng (không dùng kính hiển vi soi da) có hoặc không có kính lúp chỉ nhìn thấy ánh sáng phản xạ từ bề mặt da (đường màu xanh dày), và do đó, hầu hết các cấu trúc dưới bề mặt vẫn bị che khuất.

Hình 2: Sơ đồ minh họa các đặc tính quang học của ánh sáng khi sử dụng kỹ thuật soi da không phân cực (NPD) tiếp xúc với bề mặt da qua môi trường chất lỏng trung gian. Các mũi tên biểu thị đường đi của ánh sáng xuyên qua da. Phần lớn ánh sáng bị hấp thụ và phản xạ từ các lớp nông của biểu bì sau khi trải qua quá trình tán xạ ở mức độ thấp (đường màu đỏ đậm). Một phần ánh sáng phản xạ từ lớp sừng (đường màu xanh dương mảnh); tuy nhiên, hiện tượng lóa bề mặt này không đủ mạnh để gây nhiễu việc quan sát các cấu trúc da nằm sâu hơn. Một phần ánh sáng khác xuyên sâu hơn vào da, sau đó bị hấp thụ và phản xạ ngược trở lại sau nhiều lần tán xạ (đường màu đen mảnh); tuy nhiên, ánh sáng từ các lớp sâu này chỉ đóng góp một phần nhỏ vào tín hiệu thu được qua NPD, và phần lớn ánh sáng đi vào mắt người quan sát là ánh sáng từ các lớp nông với mức độ tán xạ thấp (đường màu đỏ đậm). Chữ viết tắt: NPD, soi da không phân cực.

Hình 3: Sơ đồ minh họa các tính chất quang học của ánh sáng khi sử dụng kỹ thuật soi da bằng ánh sáng phân cực (polarized dermoscopy - PD). Ánh sáng từ dermoscopy qua bộ phân cực tạo ánh sáng phân cực (một chiều). Ánh sáng phản xạ cần đi qua bộ lọc phân cực và cần thay đổi hướng ánh sáng, điều này chỉ xảy ra khi sự tán xạ đủ lớn để làm thay đổi hướng do vậy ánh sáng phần xa từ lớp sừng ( đường màu xanh lam) và ánh sáng được hấp thụ ở thượng bì và tán xạ (đường màu đỏ) sẽ bị chặn lại bởi bộ phân cực. Chỉ có ánh sáng xuyên sâu hơn (đường màu đen) hoặc qua tán xa nhiều lần mới tạo sự phân cực ngẫu nhiên thì khi phần xa lại mới đi qua bộ lọc phân cực chéo giúp ta quan sát được tổ chức ở sâu dưới thượng bì
Nguyên lý hoạt động của Dermoscopy là sử dụng ánh sáng phân cục và/hoặc không phân cực để loại bỏ phản xạ bề mặt, cho phép quan sát các cầu trúc bên trong lớp thượng bì, vùng nối thượng bì và trung bì, trung bì nông.
Màu sắc có ý nghĩa chẩn đoán quan trọng trong soi da. Sắc tố chính là melanin và hemoglobin, và màu sắc được tạo ra được thể hiện trong hình. Melanin tạo ra các màu nâu, đen, xám và xanh lam, tùy thuộc vào hàm lượng melanin và độ sâu của nó trong da. Lipid, dịch bạch huyết và keratin tạo ra các màu từ vàng đến cam. Trên hình ảnh soi da, collagen có màu trắng và máu có màu đỏ. Số lượng và vị trí của các chất tạo màu (chromophore) này tạo nên phổ màu sắc quan sát được khi soi da. Ví dụ, melanin nằm ở lớp sừng hoặc phần trên của thượng bì sẽ có màu đen khi soi da; khi nằm ở phần giữa hoặc phần dưới của thượng bì, nó có màu nâu; và khi hiện diện ở lớp trung bì, nó có màu xanh lam hoặc xanh xám. Do đó, trong nhiều trường hợp, những màu sắc này cho thấy sự hiện diện của sắc tố melanin sâu hơn trong da, đây có thể là dấu hiệu của bệnh ác tính xâm lấn.

Hình 4: Số lượng và vị trí của melanin, mạch máu, thể tích mạch máu, tế bào sừng và collagen đều góp phần tạo nên các màu sắc quan sát được khi soi da.
2. Ứng dụng dermoscopy
2.1. Ứng dụng trong nhóm bệnh sắc tố
Dermoscopy có giá trị đặc biệt trong đánh giá các tổn thương sắc tố:
- Phân biệt tổn thương lành tính (nốt ruồi) với tổn thương ác tính (melanoma) dựa vào mạng lưới sắc tố (pigment network), sự bất đối xứng cấu trúc, màu sắc đa dạng, màng trắng xanh.
- Phát hiện melanoma giai đoạn sớm khi chưa biểu hiện rõ trên lâm sàng.
- Theo dõi thay đổi vê kích thước, màu sắc và cấu trúc của tổn thương
Chẩn đoán sớm và phẫu thuật cắt bỏ tổn thương ác tính là yếu tố quan trọng nhất quyết định tiên lượng bệnh. Dermoscopy là công cụ không xâm lấn đã được chứng minh giúp tăng độ nhạy chẩn đoán ung thư hắc tố và phát hiện tổn thương ác tính sớm, từ đó làm giảm chỉ định sinh thiết không cần thiết

Hình 5: Biểu hiện lâm sàng của u hắc tố. Các hình ảnh soi da hiển thị những cấu trúc đặc trưng của u hắc tố. (A) Mạng lưới âm tính, các chấm và khối cầu không điển hình, mạng lưới không điển hình và các cấu trúc thoái triển, dạng hạt tiêu (peppering); (B) các đường gấp khúc

Hình 6: Dermoscopy của một nốt ruồi lành tính với mạng lưới sắc tố điển hình
2.2. Ứng dụng trong ung thư da không sắc tố
Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC), Ung thư biểu mô vảy (SCC), …

Hình 7: Dấu hiệu của ung thư tế bào đáy (a) Các mạch máu dạng cành cây; (b) các giãn mạch nhỏ, mảnh.
2.3. Ứng dụng trong bệnh viêm da
Giúp phân biệt các bệnh viêm da mà không cần sinh thiết.
Vảy nến, Viêm da dầu, Lichen phẳng, Vảy phấn hồng,….

Hình 8: Bệnh vảy nến với sự phân bố đều đặn của các mạch máu dạng chấm (phân biệt với vảy phấn hồng).
2.4. Ứng dụng trong bệnh tóc và móng
Trichoscopy giúp chẩn đoán rụng tóc (rụng tóc không sẹo và rụng tóc sẹo)

Hình 9: Hình ảnh trong rụng tóc do nội tiết tố: Sự đa dạng về độ dày của sợi tóc (sự hiện diện đồng thời của tóc mỏng, tóc trung bình và tóc dày), có thể quan sát thấy các chấm vàng riêng lẻ. Lưu ý các đơn vị nang tóc với một sợi tóc duy nhất.
2.5. Ứng dụng trong bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng .
Chẩn đoán ghẻ với dấu hiệu cánh tam giác "delta wing sign".
Hỗ trợ chẩn đoán nấm da thông qua các đặc điểm sợi lông bất thường.

Hình 10: Hình ảnh máy bay phản lực có vệt khói
Kết luận
Dermoscopy cho phép quan sát chi tiết các tổn thương sắc tố, mạch máu, cấu trúc khác của da với độ phóng đại từ mười đến hàng trăm lần, do đó giúp cải thiện khả năng chẩn đoán so với thăm khám lâm sàng thông thường. Đối với các tổn thương da ác tính như ung thư hắc tố, ung thư biểu mô tế bào đáy, ung thư biểu mô tế bào vảy... nó giúp tăng tỷ lệ chẩn đoán chính xác so với bằng mắt thường đơn thuần, tăng độ nhạy cho chẩn đoán ung thư da và giúp phân biệt tổn thương ung thư da với tổn thương lành tính khác./.
Nguồn:Trung tâm da liễu Hải Phòng Copy link


